Hà Huy Khoái

Sapere aude

Archive for the ‘Chuyện Nghề’ Category

GÀ-CHUỒNG, ĐẦU – TIỀN (CẮT TÓC VỈA HÈ, VII).

with one comment

Lần này mình chủ động bắt chuyện gã cắt tóc. Nhân câu chuyện vui “gà – chuồng 8×4, 4×8” (đang ồn ào, nhưng mình không hiểu mô tê chi cả, vì không phải chuyên gia đại số), mình trêu gã cắt tóc một chút:
– Chủ nhật thế này, chắc cậu kiếm kha khá nhỉ? Được khoảng bao nhiêu?
– Thường chủ nhật, cháu cắt được khoảng 20 cái đầu, mỗi cái 30 ngàn, 30 nhân 20, vị chi là 600 ngàn ông ạ.
– Cậu sai rồi, phải là 20x 30 chứ ! Tính như cậu thì tức là cậu xem 30 ngàn quan trọng hơn một cái đầu người, nên để trước ! Cậu không biết trong những cái đầu cậu cắt, có cái đã từng thét ra lửa à ? Thể mà dám để sau 30 ngàn đồng bọ của cậu !
Gã hãi quá, lắp bắp :
– Nhưng…cháu chỉ để ý 30 ngàn thôi ạ ! Đầu nào cháu cũng cắt thế thôi !
Vừa lúc đó có cậu bé bước đến.
-A, cắt cái đầu này nữa là hôm nay được 21 cái !
Thằng bé nghe sợ quá, cháy biến !

Written by dinhthucuc

Tháng Chín 9, 2014 at 9:08 sáng

CHUYỆN GIÁO DỤC VÙNG CAO

with 2 comments

Đi dạy cao học, chẳng biết dạy được học viên cái gì, nhưng mình thì học được rất nhiều điều ở họ. Những mẩu chuyện có thật, mặc dù có thể ai đó nói là “không điển hình”, vẫn giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục. Không nên chỉ nhìn loanh quanh ở mấy thành phố lớn. Cũng không thể chỉ “nhìn ra thế giới” rồi phán những điều rất thông thái về giáo dục Việt Nam. Thỉnh thoảng cũng nên ngó một chút về vùng sâu, vùng xa, nơi “khỉ ho cò gáy”.

Sẽ đưa dần lên đây những mẩu chuyện nghe được. Không bình luận.

THI TỐT NGHIỆP (Chuyện thứ nhất)

Hôm nay học sinh kết thúc kỳ thi tốt nghiệpTHPT trong nắng nóng. Lại nhớ chuyện mấy thầy cô giáo cùng cao (học viên cao học) kể. Chuyện thật mà như đùa.

Đến gần ngày thi tốt nghiệp rồi mà vẫn còn mấy học sinh không thấy bóng dáng đâu. Liên lạc không được, các thầy cô về tận bản để tìm. Hóa ra các cậu học sinh đó vẫn tranh thủ lên nương. Biết thầy cô đang “săn”, các em lẩn trốn như con nai, con hoẵng. Thình thoảng, có thầy phát hiện ra em học sinh đang trốn, reo lên vui mừng:”Nó kia kìa”! Rồi nháo nhào chia nhau các ngả để bắt về thi cho ký được.

Các thầy cô bảo:”Biết là sai, nhưng vào phòng thi vẫn phải làm giúp học sinh. Không thế, chúng nó đỗ thế nào được. Mà thế thì năm sau lại chẳng có em nào đến trường. Chẳng lẽ vùng cao không có học sinh”?

Hình như các thầy cô đó lờ mờ nhận thấy mình buộc phải làm sai để chữa cái sai của ai đó, lớn hơn.

Danh hiệu “nhà giáo nhân dân” có lẽ chỉ nên dành cho những thầy cô giáo vùng cao. Nghe chuyện họ kể mà cứ thấy ngèn nghẹn.

Không cười được.

HỌC PHÍ (  Chuyện thứ 2)

Giờ giải lao, chuyện với một học viên cao học, là thầy giáo vùng Lục Ngạn, Bắc Giang:

–        Ở chỗ em, học sinh nghèo lắm thầy ạ, nhiều em đến kỳ không xin nổi bố mẹ tiền học phí.

–        Thế không được miễn à?

–        Vẫn chưa đủ tiêu chuẩn! Bọn em phải nộp giúp chúng nó. Nếu lớp không nộp học phí thì em mất điểm thi đua, mà cũng sẽ bị chậm lên lương.

–        Lương đã ít, lấy gì bù? Dạy thêm à, nghe nói bị Bộ cấm rồi chứ?

–        Ôi thầy ơi! “Dỗ” chúng nó đến lớp để mình dạy còn chẳng xong, nói gì dạy thêm. Được cái vùng em nhiều vải. Mùa vải, đến vườn người ta lấy vải mang ra chợ bán. Một buổi đi dạy, một buổi bán vải, cũng tạm ổn. Với lại, ở miền núi thì cũng ít tiêu pha.

VAY…HỌC TRÒ (  Chuyện thứ 3)

–        Thấy ơi, ở chỗ em có chỉ tiêu mỗi năm, mỗi giáo viên phải vận động được một số nhất định học sinh mới đến trường thầy ạ.

–        Không đạt chỉ tiêu thì thế nào?

–        Lại mất điểm thi đua, lại chậm lương. Nhưng mà bọn em cũng có cách!

–        Cách gì?

–        Này nhé, giả dụ chỉ tiêu là phải vận động được 5 em, mà năm nay em vận động được 8 em. Nếu để nguyên “thành tích” như thế thì được khen. Nhưng em cho các bạn trong tổ “vay” 3 em, để bù nếu họ bị thiếu hụt. Năm sau, không may “thất bát” mà chỉ vận động được 2-3 em chẳng hạn, thì em lại đòi nợ!

Nghe như chuyện đùa, mà thấy muốn khóc.

Không chỉ vì thương những thầy cô giáo đó…

IV. CHỈ CÒN CÁCH…TÂM THẦN ( Chuyện thứ 4)

Lại chuyện kể của cô giáo vùng cao:

“Muốn được đạt tiêu chuẩn này nọ, thì tỷ lệ học sinh đến lớp trên tổng số học sinh trong danh sách phải rất cao. Mà trên thực tế thì ở vùng cao, tỷ lệ này thấp lắm. Vì thế, mỗi khi có đoàn kiểm tra xuống, bọn em phải tìm cách làm sao những em nghỉ học phải có lý do “bất khả kháng”. Vậy nên, nhiều khi phải cho một vài em “mắc bệnh tâm thần”, nghỉ học dài hạn! Cũng sợ phụ huynh biết, họ mắng là ghi con họ tâm thần, nhưng còn sợ đoàn kiểm tra hơn. Cứ đối phó mãi thế này, bọn em cũng lo rồi mình…tâm thần mất!”

Học sinh không tâm thần.

Thầy cô giáo chưa tâm thần.

Trong những chuyện làm cả xã hội “tâm thần” thế này, phải có ai đó “tâm thần” thực sự!

 

Written by dinhthucuc

Tháng Sáu 8, 2014 at 8:18 chiều

THI THÊ NÀO?

with one comment

(Bài viết gửi trang “Học thế nào”).

Câu hỏi “thi thế nào” góp phần quan trọng trả lời cho câu “Học thế nào”. Ít nhất thì điều này cũng đúng ở Việt Nam.

Gần đây vấn đề “ bỏ hay giữ các kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi đại học” được dư luận quan tâm. Nhiều nhân vật khả kính đã có ý kiến về vấn đề này. Gần đây nhất là hai bài của GS Ngô Bảo Châu và GS Nguyễn Tiến Dũng. Thú thật là tôi chỉ nhìn cái “tít” chứ không đọc hai bài đó. Không phải vì lười như thường lệ, mà vì chăm. Tôi biết đó là hai giáo sư có những suy nghĩ sâu sắc và lý luận chặt chẽ. Đọc họ, thế nào suy nghĩ của mình cũng bị ảnh hưởng, thậm chí vì lười nên sẽ không nghĩ gì thêm! Bởi thế nên nghĩ thế nào cứ viết thế đã, để góp vào trang “Học thế nào”.

Tôi không phải là thầy giáo hay người làm giáo dục “chuyên nghiệp”. Vậy nên không có ý nói một cách “toàn diện”, “chặt chẽ”. Chỉ là vài ý tưởng vụn vặt thôi. Mà thực ra chỉ có một ý. Đó là làm thế nào để bảo đảm “công bằng xã hội” trong học và thi.

Theo tôi thì “tư chất” của con người phân phối đều trong các vùng miền. Khó có thể nói người Hà Nội “nói chung” thông minh hơn người Hà Giang. Vậy nhưng chất lượng học sinh ở hai nơi hoàn toàn khác nhau. Chắc ai cũng thừa nhận lý do chủ yếu là điều kiện sống, điều kiện học hành.

Một số giáo viên Hà Giang nói với tôi: Đồi Ngô thực ra là chuyện nhỏ. Ở chỗ họ, có trường khi thi tốt nghiệp THPT, thầy không những phải bày hộ trò, mà còn phải vẽ hộ cái đường tròn. Nếu để cho trò loay hoay tự vẽ  thì khi cái compa gần kết thúc vòng là nó lại chệch đi, phải xin thêm tờ giấy khác! Đừng nghĩ các thầy cô ở đó “tiêu cực”. Họ không những không nhận đồng tiền nào của học sinh, mà nhiều khi còn phải bỏ tiền túi giúp các em thêm. Vấn đề là nếu không làm thế, có thể cả trường không em nào đỗ tốt nghiệp. Mà sau đó chắc chắn sẽ không em nào đi học nữa. Nên nếu thực hiện nghiêm túc “hai không” thì sẽ thêm cái “không” thứ ba là vùng cao không còn cái chữ! Sẽ lấy ai làm việc ở các vùng sâu vùng xa?

Vậy thì phải làm thế nào để kỳ thi ở đó vẫn nghiêm túc, mà học sinh vẫn đỗ tốt nghiệp? Thiết nghĩ khi điều kiện đã không “chung” thì không nên có kỳ thi tốt nghiệp với bài thi chung. Chắc chắn các em ở Hà Giang cần những kiến thức bảo vệ rừng hơn là “khảo sát và vẽ đồ thị hàm số”.  Vậy thì hãy thi cái gì đó về RỪNG. Tôi chắc các em không đến nỗi phải nhờ thầy cô, và không đến nỗi phải bỏ học. Mà kỳ thi vẫn có thể tiến hành rất nghiêm túc. Muốn vậy, phải có những đề thi thích hợp với từng vùng. Có thể là từng tỉnh, có thể là một số tỉnh chung nhau. Nhưng đừng dùng chung đề thi, để rồi có thêm cái “chung” nữa là thi “không nghiêm túc”. Có nơi không nghiêm túc vì tiêu cực, nhưng có nơi họ buộc phải “không nghiêm túc” vì không thể làm khác.

Với kỳ thi đại học, chúng ta có chính sách “ưu tiên”. Vùng khó khăn được cộng điểm. Nhưng một khi học sinh ở vùng khó khăn có trình độ quá thấp so với “đề thi chung” rồi thì việc cộng điểm ít có ý nghĩa. Lại trở về cái “tiên đề” mà tôi rất tin là  ”Nói chung tư chất được phân phối đều” để thử tìm một giải pháp thực sự công bằng. Công bằng theo nghĩa: người có tư chất ngang nhau thì được tạo điều kiện học ngang nhau. Nếu được quyết định, tôi sẽ đưa ra phương thức sau:

Trong tổng số chỉ tiêu vào đại học, dành 20% để lấy theo số điểm, từ cao xuống thấp.

80% còn lại được chia đều theo tỷ lệ học sinh các tỉnh. Ở mỗi tỉnh sẽ lấy điểm từ cao xuống thấp. Nếu tỉnh nào muốn bảo đám sự công bằng trong tỉnh đó do điều kiện vùng miền thì có thể lặp lại cách làm tương tự cho tỉnh mình.

Làm như vậy các em giỏi ở các thành phố lớn không bị thiệt, mà bảo đảm công bằng xã hội hơn cách làm hiện nay.

Nếu lo các em ở địa phương kém (rõ ràng là chỉ về trình độ tạm thời, chứ không phải về tư chất) thì có thể mở những lớp bồi dưỡng (dự bị) cho các em.

Hình như cách làm tương tự cũng đã được dùng khi “tuyển” Nghị sĩ. Cũng chưa thấy ai lo các nghị sĩ có trình độ chênh lệch nhau. (Không có ý định so sánh hai chuyện, chỉ đùa một chút thôi).

Written by dinhthucuc

Tháng Chín 2, 2013 at 11:33 sáng

THỜI SINH VIÊN, 1-6.

with 3 comments

Sắp cùng các bạn đồng môn kỷ niệm nửa thế kỷ bước chân vào Khoa Toán ĐHTH Hà Nội (8/1963). Không phải làm nghề văn nên sẽ không viết hồi ký. Mà có là nhà văn cũng chưa chắc đã viết. Ilya Erenburg có lần nói đại ý: hồi ký  cho ta bức tranh về quá khứ giống như hình ảnh ta thấy khi ngồi trong cái xe ô tô chạỵ ban đêm –  đèn pha của nó khi thì chiếu vào cái gốc cây, khi thì dọi vào hòn đá. Mà trên thực tế chắc gì đó đã là gốc cây, hòn đá? Anré Weil cũng mở   đầu cuốn   “Souvenirs d’apprentissage” bằng câu: khi viết hồi ký thì nghệ thuật quên cũng quan trọng như là nghệ thuật nhớ!

Thôi thì nhớ cái gốc cây, hòn đá nào, cứ viết ra vậy.

Từng mẩu ộn xộn trên FB, cất dần vào đây cho nó có chỗ.

 DSC04818  ĐẦM MÂY – VĂN YÊN -ĐẠI TỪ, 1966

1. GIÀ

Hồi mới lên khu sơ tán Đại Từ (Thái Nguyên), 8/1965, tuổi bọn mình thường   19 đến 21. Vậy mà   dân ở đó đều  đoán đứa ít tuổi nhất trong bọn cũng là…37! Khi hỏi họ, thì họ chỉ chưa đầy 30. Mà bọn mình cứ nghĩ họ đã 40-50 rôi! Kể ra thì cũng hiểu được, vì chưa lên đến nơi đã nghe câu “Lử khử lừ khừ, chẳng Đại Từ cũng Võ Nhai”, nên có lẽ họ ốm đau nhiều, già trước tuổi. Nhưng cái sự bọn mình 37-40 thì không tài nào giải thích được. Ở lâu mới được người ta cho biết: “Chúng tôi nghĩ các anh quanh năm học hành, không phải làm lụng vất vả nên trông trẻ thế, chứ không thể dưới 40 được. Học cao thê kia mà. Ở đây đứa nào cũng ba năm mới lên được một lớp, 50 tuổi mà được như các anh còn là giỏi”!

2.  PHƯƠNG PHÁP QUY NẠP

Hồi đi học rất thích “quy nạp”, vì thấy dùng nó chứng minh mọi điều khá dễ dàng! Một lần mình thử áp dụng “quy nạp” để nói chuyện với bác chủ nhà nơi sơ tán:

–      Bác ơi, có con nghé nào khi mới sinh ra đã nặng đến mức bác không bê lên được không?

–      Làm gì có con nào sinh ra mà đã nặng thế!

–      Thế có con nào hôm trước bác còn bê lên nổi, hôm sau đã nặng quá, không bê  được?

–      Làm gì có con nào lớn nhanh thế!

–      Vậy nếu từ khi con trâu kia sinh ra, ngày nào bác cũng bế nó lên thì bây giờ bác bế nó lên dễ như bỡn nhỉ!

Bác chủ nhà tức anh ách mà không sao cãi lại được!

Nhưng hình như bác ấy vừa đi vừa lẩm bẩm: “Người ta bận rộn chứ có rỗi hơi như anh đâu mà ngày nào cũng ra bế con nghé!”

3.  BỮA CƠM SINH VIÊN

Hồi vào năm thư nhất, chúng tôi cứ thắc mắc khi nhớ lại bài thơ được học ở phổ thông “Con cá, chột nưa” của Tố Hữu viết về chuyện tuyệt thực trong tù:

“Ăn đi vài con cá

Dăm bảy cái chột nưa…”

Chẳng lẽ Tố Hữu bịa? Mà nếu không thì chẳng lẽ cơm tù lại sang thế: ăn lén bạn tù ”vài con” thì trên đia chắc phải có dăm bảy con cá? Vậy mà mâm cơm của chúng tôi ở nhà ăn tập thể (15 đồng/tháng) chẳng mấy khi có bóng dáng loài động vật nào như tôm cá, lợn gà! Mà hồi đó còn ở Hà Nội chứ chưa đi sơ tán đâu nhé!

Mỗi mâm chúng tôi có 4 người. Hôm đó tôi ốm, nên mâm có ba suất cơm, với một soong cháo. Không ngờ người ốm được ưu tiên, trong soong cháo có mấy miếng thịt! Thế là chúng tôi thích thú chia nhau chỗ thịt đó. Hôm sau báo “ốm” thêm một người nữa. Ai ngờ soong cháo không được gấp đôi, mà chỉ nhỉnh hơn chút ít. Thế là rút kinh nghiệm, cả mâm phân công nhau ốm. Mỗi đứa một tuần thôi, vì “ốm”  lâu quá cũng bất tiện. Mà không được ốm quá một người, vì cũng chẳng thêm được bao nhiêu thịt, lại mất một suất cơm.

Mẹo hay là thế mà đến khi lên sơ tán thì không áp dụng được nữa. Vì ốm cũng chẳng có thịt, mà lại bị bởt suất nên càng đói!

Cho đến tận bây giờ, “đói” vẫn là một phần rất đáng nhớ của thời sinh viên chúng tôi.

4.  CÔ TẤM NGÀY NAY

Hồi ở sơ tán, cứ môt-hai hôm lại vác dao vào rừng. Khi thì chặt gỗ, nứa về dựng lán, khi thì kiếm củi theo “định mức”, cũng có khi chặt củi, chặt nứa kiếm tiền! Được cái may là anh Tiến (GS Nguyễn Duy Tiến) lúc đó vừa tốt nghiệp ở lại Khoa, được phân công phụ trách lao động hay là nhà bếp gì đó, không nhớ nữa. Chỉ biết là ỷ vào chỗ quen biết, chúng tôi thường ép để bán được củi cho nhà bếp Khoa Toán với giá cao!

Đi rừng quanh năm, mà phiếu vải cả năm có vài ba mét, nên anh nào cũng chỉ có 1,5 – 2,0 bộ quần áo, với một bộ đồ “chuyên đi rừng”. Thường là quần áo bộ đội cũ xin đâu đó. Rách như tổ đỉa, và bẩn nữa. Cứ đi về là phơi lên dây ngoài nắng chứ giặt giũ gì đâu. Lán của chúng tôi (các ban Đại số-Hàm Phức-Phương trình vi phân, thường được gọi tắt theo cái  tên cũng không “thơm tho” gì là “”Đại hàm phân”) ở cạnh lán của các bạn nữ. Có điều lạ là quần áo phơi buổi sáng, chiều đến tất nhiên là vẫn rách bươm, trừ của bạn Phạm Đình Nghiệp! Đã được vá lành lặn, lại còn giặt sạch nữa! Ngày nào cũng thế, cứ như là có Cô Tấm giúp chàng Hoàng tử. Rình mất mấy hôm thì Hoàng tử Nghiệp bắt “quả tang” Cô Tấm – Lê Thị Lan –  chưa kịp trốn vào vỏ thị!

Ra trường vài năm họ cưới nhau. Lan ở lại làm cán bộ Khoa Toán, Nghiệp về ĐHKT Quân sự. Ít lâu sau thì Nghiệp bảo vệ Tiến sĩ triết học, rồi làm Hiệu trưởng Trường Đoàn (của TƯ Đoàn thanh niên lao động). Hạnh phúc của họ không thật lâu dài, vì Nghiệp đã ra đi khi cũng còn khá trẻ.

5. TUỔI MƯỜI CHÍN

Đúng dịp sinh nhật thứ 19, tháng 11/1965 mình bị ốm. Nằm trạm xá của Trường (ở xã Văn Yên, Đại Từ) mất mười ngày. Trưởng trạm là chú Sứ, y sĩ. Là y sĩ thôi nhưng chú giỏi lắm, bệnh gì cũng chữa được! Tất nhiên là bệnh sinh viên thì cũng không có gì trầm trọng, nhưng chú chẩn đoán rất giỏi: mấy cậu đau bụng mà chú chẩn đoán ruột thừa chuyển ngay lên huyện đều đúng cả. Chú còn nhận xét: không hiểu ở đây ăn uống nhiều sạn hay sao mà tỷ lệ ruột thừa ở sinh viên lên cao quá! Nghe nói chú còn định xin phép được mổ ruột thừa ở trạm xá!
Nằm trạm xá đúng dịp sinh nhật nên buồn quá. “Tức cảnh sinh tình” (chữ “tức” ở đây hiểu theo nghĩa thuần Việt, như là “tức anh ách”), mình có làm bài “thơ”. Cũng không biết tại sao lại nhớ đến tận bây giờ. Chắc vì ít làm quá! Mà hồi nhỏ thích văn thơ cổ nên tập tọng làm theo thể “thất ngôn bát cú”:
Mười chín năm trời đã trải qua
Hỏi: sao ta đã phải sinh ra?
Toán dăm ba chữ, rầu danh bút
Văn một vài câu, hổ tiếng nhà
Tài mọn, trách Trời sao chẳng phú
Mộng nhiều, giận Đất mãi không tha
Mai sau rồi có ra gì nhỉ
Biết trước thời ta cứ ở nhà !

Có điều lạ là hình như căn cứ vào hai câu 3-4 có thể đoán ra khá đúng tương lai của anh chàng 19 tuổi này : làm toán làng nhàng, viết mấy câu văn nhí nhố trên vài tờ báo, rồi thì blog và FB ! Còn hai câu 5-6 khi ấy mình viết vì biết các cụ hay xem « khẩu khí » để đoán hậu vận lắm, nên vì sợ bị chê mà phải viết cho ra vẻ có chút ít « khí phách » đấy thôi. Hai câu kết thì trở lại là mình : cái « LÃN » hình như đã ở trong người mình từ lúc sinh ra.

6. CỤ BÁ.
CỤ BÁ (Nguyễn Trọng Bá) hồi sinh viên là tổ trưởng tổ 2 của chúng tôi. Cụ học phân ban Đại số. Là dân Cẩm Nhượng (nơi bây giờ là bãi tắm Thiên Cầm), con người và tính tình cụ mặn chát mùi biển. Nói to, chẳng mấy khi được một câu đủ đầu đủ cuối! Cụ đánh cờ tướng giỏi lắm. Thường tỷ thí với mấy tay cao cờ trong lớp như Lê Nhiệm, Đỗ Khắc Vinh, tính tỷ số ngày này sang ngày khác, đến tận con số như  997 – 982. Thường thì các cụ chỉ kết thúc trận cờ để đi học bài khi có một trong hai đấu thủ cầm bàn cờ dọa choảng vào đầu đối phương!
Tính tình phóng khoáng nên khi ở Hà Nội, căn phòng nhỏ của cụ lúc nào cũng đầy “khách ở quê ra”. Người thì đưa con ra luyện thi đại học, người thì nằm chờ đến phiên bệnh viện gọi lên bàn mổ. Còn những năm cụ ở Moscow, làm cộng tác viên cho nhà xuất bản Khoa học cuả Nga thì căn hộ của cụ được xem là câu lạc bộ Việt Nam. Chẳng mấy khi có dưới 10 “thực khách” lỡ độ đường từ nước sang hoặc từ các nơi “lên Mát”.
Nhân chuyến đi “xuyên ½ Việt” kỷ niệm 50 năm ngày vào trường, chúng tôi ghé thăm cụ. Đến đầu làng, hỏi thì ai cũng biết cụ Bá. Một anh thanh niên phóng xe máy dẫn đường đưa chúng tôi đến nhà cụ. Ngôi nhà hai tầng nằm rìa làng chài, sát ngay mép biển. Về hưu, cụ và vợ về quê xây ngôi nhà đó, coi như quanh năm nghỉ mát Thiên Cầm!
Đập vào mắt chúng tôi là nong tôm nõn đang phơi nắng ngoài sân, và mấy cái hũ to, chắc là hai cụ tự làm nước mắm. Cụ bày ra chiếu mấy hũ rượu, cái thì ngâm ba kích, cái ngâm cá ngựa. Có cả những hũ ngâm cái gì màu nửa đen nửa tím, tôi không biết. Cả lũ túy lúy với rượu tự chế và hải sản tươi. Tưởng như không hề có 50 năm. Không hề có tuổi già. Chỉ có gió biển Thiên Cầm mát rượi.
Chúng tôi hỏi:
-Này ông, hồi trước nghe ông kể quê ông nhiều tép lắm. Chỉ cần xuống nước, tép bay loạn xạ. Cứ há mồm, đầy thì nhai, ngọt lắm. Nửa buổi là no. Chúng tôi chuẩn bị dắt lưng mối đứa một bó rau hung Láng, với hươu rượu. Ta xuống biển, ngậm sẵn vài lá rau húng, đợi tép vào đầy miệng là nhai, rồi làm tợp rượu! Chắc thú vị lắm
Cụ cười, có vẻ hơi ngượng:
-Chưa đến mùa. Khi nào đến mùa đó lại vào chơi nhé!
Tôi hỏi cụ Bá về ông anh trước là giảng viên ở ĐHSP Hà Nội. Cụ đặt chén rượu xuống chiếu:
– Vẫn ở Hà Nội. Rủ về đây sống mà ông ấy không chịu. Ông ấy giận, vì hồi cải cách ruộng đất đã lớn rồi, bị giam cùng với bố trong nhà lao.
Rồi cụ trầm ngâm, điều ít khi thấy ở cụ Bá:
– Thật khổ, cái đáng quên đi để sống mà không quên được. Thành ra ngày trước bị lấy mất nhà mất cửa, bây giờ tự đánh mất quê. Mất cả cái bãi Thiên Cầm này nữa.
Xe đi, ngoái nhìn lại ngôi nhà cụ Bá, chúng tôi đều thấy, hóa ra cụ là người thông minh, biết sống nhất  bọn, mặc dù hồi đi học cụ không phải là xuất sắc.

Written by dinhthucuc

Tháng Sáu 27, 2013 at 7:42 chiều

Thầy Lê Văn Thiêm

with 4 comments

(Ngày 29/3/2013 là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 95 của Giáo sư Lê Văn Thiêm. Tôi đưa lại đây bài viết cách đây đã 10 năm.)

Giáo sư Lê Văn Thiêm hình như chưa bao giờ tự nói về mình. Những người khác cũng chỉ viết về Ông từ sau khi Ông mất, ngày 3 tháng 7 năm 1991. Nhưng cả lúc Ông còn sống cũng như khi Ông đã ra đi, người ta thường nhắc tên Ông trong những câu chuyện hàng ngày, kể cho nhau nghe những giai thoại về Ông.

 Những điều tốt đẹp nhất của cuộc sống bao giờ cũng rất giản dị. Thầy Thiêm giản dị như những câu chuyện giản dị nhất của đời thường. Bởi thế, viết về Ông thật là khó. Lúc này đây, tôi như thấy Ông với ánh mắt thật hiền lành nhưng có pha chút diễu cợt khi thấy tôi  định liệt kê những công việc Ông đã làm, những chức vụ Ông từng đảm nhiệm, như lệ thường khi viết về một vỹ nhân. Không dám trái ý Thầy, tôi  xin được bắt đầu từ một kỷ niệm.

Đó là năm 1966, khi cuộc chiến tranh phá hoại của  Mỹ đang ở thời kì ác liệt nhất. Các trục giao thông chính, đường bộ, đường sắt bị phá hoại nghiêm trọng. Kênh Nhà Lê (con kênh được đào từ thời Lê, chạy gần song song với quốc lộ 1) được sử dụng để chuyên chở hàng hoá, vũ khí. Lòng kênh đã cạn, nhưng không thể dùng một lực lượng quá lớn để nạo vét dưới bom đạn suốt ngày đêm. Giáo sư Lê Văn Thiêm đã đề xuất dùng phương pháp nổ định hướng, tức là dùng mìn nổ dưới lòng kênh, nhưng bố trí sao cho hầu hết đất đá sau khi nổ rơi lên bờ kênh, chứ không phải rơi lại xuống lòng kênh. Ông đã dạy cho chúng tôi lý thuyết nổ định hướng, mà tư tưởng chủ đạo có thể tóm tắt như sau. Khi có một vụ nổ lớn, những vật chất gần tâm nổ chuyển động theo quy luật của chất lỏng lý tưởng (không nhớt, không nén được). Có thể mô tả chuyển động này nhờ lý thuyết hàm biến phức, là chuyên ngành toán học mà giáo sư nghiên cứu từ nhiều năm. Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể điều khiển hoàn toàn vụ nổ, tức là sắp xếp sao cho vật chất quanh tâm nổ chuyển động theo một quỹ đạo định sẵn. Chúng tôi, một nhóm gồm 4 sinh viên toán năm thứ ba của Trường Đại học tổng hợp Hà Nội hăm hở lên đường vào Nghệ An để cùng một đơn vị thanh niên xung phong thực hiện công việc đó. Ai cũng biết là chuyến đi đầy nguy hiểm, nên nhóm chúng tôi được bạn bè và bà con nơi trường sơ tán tiễn đưa khá “long trọng”. Nhưng kỷ niệm mà chúng tôi  không bao giờ quên là, trước lúc chuyến xe phía Nam gần chuyển bánh, Thầy Thiêm hớt hải đạp xe tới, gọi tôi xuống dặn dò đôi lời và đưa cho tôi 72 đồng. Hồi đó, 72 đồng lớn lắm, bằng hai phần ba số tiền lương giáo sư mà Thầy vừa nhận xong. Chúng tôi hết sức cảm động, vì biết Thầy chỉ giữ cho mình số tiền tạm đủ sống đến kỳ lương sau. Chuyến đi đó đã để lại nhiều bài học lớn cho đời làm toán của chúng tôi, mà trước hết là bài học về việc đưa những kiến thức ở nhà trường vào phục vụ sản xuất và chiến đấu. Bài học đó, Thầy Thiêm dạy cho chúng tôi bằng chính cuộc đời làm toán của Thầy. Từ một chuyên gia hàng đầu trong một lĩnh vực toán học lý thuyết đang được xem là mốt nhất thời đó, Giáo sư Lê Văn Thiêm đã chuyển hẳn sang nghiên cứu những vấn đề toán học đặt ra từ thực tiễn Việt Nam, mà một trong những vấn đề đó chính là nổ định hướng để nạo vét lòng kênh mà tôi vừa nhắc đến trên đây. Khi học năm thứ tư ở trường, chúng tôi lại được cùng một đơn vị thanh niên xung phong áp dụng phương pháp này để làm đường chiến lược trong rừng sâu. Gáo sư Lê Văn Thiêm  đã biên soạn thành giáo trình hoàn chỉnh để hướng dẫn cho những người không có chuyên môn toán học sử dụng phương pháp đó.

 Giáo sư Lê Văn Thiêm là người như thế: Ông làm toán không phải vì danh vọng, tiền tài, mà chỉ đơn giản, đó là cách mà Ông có thể đóng góp phần mình cho đất nước. Giáo sư không bao giờ nhắc đến những đóng góp của mình trong nghiên cứu lý thuyết. Tôi là một trong những học trò trực tiếp của Ông từ khi còn là sinh viên năm thứ ba cho đến mãi sau này, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe Ông kể về những công trình của chính Ông. Tôi chỉ biết về những công trình đó khi tôi đi sâu nghiên cứu hướng chuyên môn mà Ông là một trong những người có công khai phá. Đó là lý thuyết phân phối giá trị các hàm phân hình (hay còn gọi là lý thuyết Nevanlinna, theo tên của người khai sinh ra nó, nhà toán học Phần Lan đã một thời là chủ tịch Hội toán học quốc tế). Trong nhiều hội nghị gần đây về lịch sử toán học, lý thuyết Nevanlinna được đánh giá là một trong những lý thuyết đẹp nhất của toán học thế kỷ 20. Giáo sư Lê Văn Thiêm chính là một học trò của Nevanlinna, và Ông là một trong nhữngngười đầu tiên cho lời giải của “bài toán ngược của lý thuyết Nevanlinna”. Công trình của Ông không chỉ được quan tâm vì đã chứng minh sự tồn tại nghiệm của bài toán đó, mà còn vì Ông đã đưa ra một phương pháp hoàn toàn mới để nghiên cứu vấn đề đặt ra. Trong những công trình khoa học và sách chuyên khảo gần đây trên thế giới, người ta vẫn còn nhắc công trình của Ông viết cách đây hơn nửa thế kỷ, và nhắc đến Ông như là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của cụ Nguyễn Du:                            

                                                    Bất tri tam bách dư niên hậu

                                                  Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

    Để đời sau còn nhắc đến mình, khó lắm! Vậy mà Giáo sư Lê Văn Thiêm hầu như không quan tâm gì đến điều đó. Sau khi viết vẻn vẹn có 5, 6 công trình (mà về sau trở thành nổi tiếng như đã nói trên), năm 1949, Ông từ bỏ chức giáo sư ở trường Đại học Zurich (Thuỵ Sỹ) để trở về với Tổ quốc Việt Nam đang kháng chiến. Với Ông, điều đó cũng thật là tự nhiên, như người ta phải thở hít khí trời.

Rời phương Tây, Ông đi máy bay về Băng Cốc, rồi từ đó đi bộ về miền bưng biền Đồng Tháp. Từ Nam Bộ, Ông phải mất sáu tháng lặn lội trên những con đường rừng mới ra được đến chiến khu Việt Bắc. Những điều này tôi chỉ tình cờ được biết khi hỏi vì sao Ông có thói quen hút sáu điếu thuốc lào một lúc, và Ông giải thích rằng, vì đi bộ lâu trong rừng buồn quá, chẳng có thú gì hơn!

Việt Bắc, Giáo sư Lê Văn Thiêm đã cùng những nhà trí thức hàng đầu như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào nhiệm vụ xây dựng nền khoa học và giáo dục đại học của nước Việt Nam mới. Trong tay họ, hầu như chẳng có cuốn giáo trình bậc đại học nào, ngoài vài cuốn sách mà họ đã cố gắng mang theo mình khi rời nước Pháp. Vậy mà họ, thế hệ trí thức đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã làm nên một kỳ tích khiến thế giới phải kinh ngạc: ngay sau khi hoà bình lập lại, các trường đại học Việt Nam đều do cán bộ người Việt Nam giảng dạy, và họ dạy tất cả các giáo trình bằng tiếng Việt! Trong công lao chung ấy, Giáo sư Lê Văn Thiêm, người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Khoa học cơ bản và Trường Cao đẳng sư phạm ở chiến khu Việt Bắc đã góp phần không nhỏ.

Tên tuổi giáo sư Lê Văn Thiêm có thể gắn với  rất nhiều chữ “đầu tiên”. Ông, cùng với giáo sư Phạm Tỉnh Quát (thân sinh giáo sư Frédéric Phạm) là những người đầu tiên  mà vào năm 1941 thi đỗ vào trường École Normale Supérieure  (phố d’Ulm, Paris), trường hàng đầu của Pháp trong việc đào tạo các nhà khoa học. Họ cũng là những người Việt Nam đầu tiên nhận được học vị Tiến sỹ quốc gia của Pháp năm 1948. Ông là tác giả của công trình toán học đầu tiên của người Việt Nam  công bố trên tạp chí quốc tế, là người Việt Nam đầu tiên trở thành giáo sư toán học tại một trường đại học Châu Âu (Zurich, 1949). Giáo sư Lê Văn Thiêm là Chủ tịch đầu tiên của Hội toán học Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện toán học Việt Nam, Tổng biên tập đầu tiên của hai tờ báo toán học của Việt Nam  (Vietnam Journal of Mathematics và Acta Mathematica Vietnamica).

Có thể còn nhiều cái “đàu tiên” nữa, mà vì Ông không bao giờ nhắc tới nên ta cũng quên đi. Chỉ có một điều không ai quên được, đó là những gì Ông để lại cho nền khoa học Việt Nam. Chúng tôi, những học trò của Ông, luôn tự biết là mình đã có hạnh phúc lớn được học tập và làm việc với Ông. Không phải trong thời kỳ lịch sử nào cũng xuất hiện lớp người như Ông. Họ thường có mặt ở buổi đầu của cách mạng, khi mà niềm say mê lý tưởng đã vượt lên những toan tính cá nhân. Có lẽ vì thế mà cho đến tận cuối đời mình, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ. Những ai đã từng được làm quen với Ông đều không thể quên con người nhân hậu, trung thực tới mức ngây thơ, tin tất cả mọi người như tin chính bản thân mình. Điếu đó đã gây cho Ông không ít khó khăn khi Ông còn sống (và đảm nhận những chức vụ lãnh đạo), nhưng đã làm cho hình ảnh Ông để lại trong lòng học trò, đồng nghiệp mãi mãi là hình ảnh về một nhân cách lớn, không chút bụi mờ.

Written by dinhthucuc

Tháng Ba 2, 2013 at 4:29 chiều

Ars magna

with 2 comments

 

Tôi có ý định viết một loạt bài về Lích sử và Triết học của toán học, nhưng vì cái tính “lãn” cố hữu nên mỗi “kỳ” sẽ chỉ có một mẩu ngắn (dưới 20 dòng thôi).

(Kỳ 1).

Năm 1545 Gerolarmo Cardano xuất bản cuốn Ars magna  (Nghệ thuật vĩ đại). Cuốn sách trình bày cách giải phương trình đại số bậc 3 và bậc 4, mà nói như  Felix Klein, đó là  “tác phẩm quý giá chứa đựng mầm mống của đại số hiện đại, vượt ra ngoài giới hạn của toán học cổ đại”. Cuốn sách còn là cột mốc đánh dấu sự thức tỉnh của toán học châu Âu sau “đêm dài trung cổ”.

Bài viết này  dành để nói về cuốn sách đó, về cuộc đời của Cardano và những người đã có công lao to lớn trong lý thuyết phương trình đại số.

Vấn đề tìm nghiệm phương trình bậc 3 làm đau đầu nhiều thế kỷ các nhà toán học arab và châu Âu. Bước tiến lớn theo hướng này thuộc về Leonardo Pisano Bigollo (1170 – c. 1250, còn được gọi làFibonacci), người chứng minh rằng nghiệm phương trình  x3+ 2x2+10=20  không thể biểu diễn dưới dạng “số vô tỷ Euclid”  \sqrt {a+\sqrt {b}}.  Điều đáng ngạc nhiên là ý tưởng xét việc biểu diễn nghiệm phương trình đại số bằng căn thức đã được nghiên cứu từ thế kỷ 13!  Tuy nhiên, vẫn chưa có ánh sáng nào trên con đường tìm kiếm nghiệm phương trình bậc 3.

Luca Pacioli (1445-1517), trong cuốn Tổng số học (1494) (cuốn sách toán đầu tiên viết bằng tiếng Italia, mà không phải bằng tiếng latinh) cho rằng, “các phương pháp đại số không đủ để cho cách giải phương trình bậc 3, cũng như để cầu phương hình tròn”. Sự so sánh này cùng với uy tín của Pacioli đã làm cho nhiều nhà toán học xem phương trình bậc 3 nói chung là không giải được.

Chỉ có một người không nghĩ như thế.

Người đó là ai? Xem kỳ sau sẽ rõ (nhưng không phải là Cardano!)

(Còn tiếp)

Written by dinhthucuc

Tháng Mười 10, 2012 at 5:16 sáng

Ta về ta tắm ao ta…

with one comment

Hôm nay đi dự kỷ niệm sinh nhật lần 80 của nhà văn Nguyên Ngọc (do Tia Sáng tổ chức). Trong bài nói rất hay của ông, có cái ý làm mình nhớ mãi (có thể là ghi không đúng nguyên văn):

Tôi chưa được học hết Tú tài (THPT) thì tham gia chiến đấu. Tôi có cái may lớn là trải qua hai cuộc chiến tranh luôn được sống gần gũi với dân, được dân bảo vệ, nuôi nấng. Tất cả những điều tôi học được là từ nhân dân. Bây giờ đã 80 rồi, mỗi lần về với rừng già Tây Nguyên, tôi thấy như mình vừa được tắm! Con người trở nên trong sạch hơn

Thảo nào cha ông ta có câu :”Ta về ta tắm ao ta…” Ai cũng cần có cho mình một cái ao, để thỉnh thoảng về đó rũ sạch bụi trần vướng phải trong cái cuộc đời đầy bụi bặm này.

Cái ao của mình ở đâu? Ở Toán học. Thời trẻ còn sức thì vừa tắm, vừa đắp thêm vài hòn đất cho bờ ao. Nay già rồi, nhưng được tắm trong CÁI AO (làng Toán) vẫn là hạnh phúc lớn. Những người khỏe hơn, giỏi hơn, chắc họ xông ra biển.

Nhưng hình như chưa ai nói :”Ta về ta tắm biển ta..”.

Written by dinhthucuc

Tháng Chín 7, 2012 at 5:32 chiều