Hà Huy Khoái

Sapere aude

TÌM HIỂU CHÍNH BẢN THÂN MÌNH

with 15 comments

Tìm hiểu chính bản thân mình –  đó là niềm khát khao của loài người trong suốt quá trình phát triển. Những thành tựu khoa học vang dội gần đây như nhân bản vô tính, giải mã bộ gien người,…phần nào tạo nên ấn tượng  con người sắp đạt đến chỗ hiểu được chính mình. Phải vậy không?
Dẫu vô cùng thán phục trước việc  “đọc được” cuốn sách ghi mật mã di truyền của con người, tôi vẫn nghĩ rằng, quãng đường từ chỗ chưa đọc được đến đọc được sẽ là rất ngắn so với quãng đường từ đọc được đến hiểu được. Vậy mà quãng đường đã qua là khoảng thời gian từ khi có loài người cho đến khi kết thúc thế kỉ 20! Để hình dung về sự so sánh hai quãng thời gian nói trên, ta hãy đưa cho em bé 10 tuổi, đã biết đọc rất thạo, bản dịch cuốn Nam Hoa Kinh. Chắc rằng em bé sẽ đọc làu làu, nhưng ai biết là cần bao nhiêu lần 10 năm nữa để em bé kia hiểu được Trang Tử? Dĩ nhiên, với sự trợ giúp của máy tính điện tử, khoa học đang tiến với tốc độ không phải như của thế kỉ trước, và cũng không phải như mười năm trước. Ngay việc giải mã bộ gien người cũng không thể thực hiện được nếu không có sự trợ giúp của máy tính. Và nói chung, ở nơi nào mà ta đã biết được “quy luật của tự nhiên”, nhưng để rút ra những hệ quả cần thiết phải cần đến khối lượng tính toán khổng lồ, nơi đó máy tính là không thể thay thế được. Cũng như vậy, khi ta cần rút ra  quy luật xuất phát từ một số lượng lớn các dữ liệu đo đạc và quan sát, ta phải cần đến máy tính. Tuy nhiên, máy tính điện tử, đúng hơn là  máy tính điện tử hoạt động theo nguyên tắc như hiện nay, có đưa con người đến cái đích tìm hiểu được chính mình hay không, đó vẫn còn là câu hỏi lớn.
Cho đến nay, máy tính điện tử chỉ thúc đẩy chúng ta đi nhanh hơn trên con đường mà chúng ta đang đi. Tiến bộ khoa học diễn ra nhanh hơn, nhanh hơn rất nhiều, nhưng vẫn chưa có một thay đổi về chất. Cho đến tận ngày hôm nay, tri thức, nói cho cùng, vẫn là cái gì đó có tính cá thể. Rất có thể chúng ta đang tiến dần đến cái giới hạn, mà sau đó, ta không còn đủ sức tiếp nhận những thông tin về tự nhiên. Điều đó xẩy ra không chỉ do khối lượng quá lớn của các thông tin, mà còn do độ phức tạp của chúng (trong Toán học, người ta thường dùng thuật ngữ độ phức tạp Kolmôgôrốp). Có những giới hạn mà bộ óc con người không thể vượt qua. Nếu chúng ta không có ý định từ bỏ việc tiếp tục tích luỹ các kiến thức khoa học, chúng ta buộc phải chuyển giao nhiệm vụ này cho máy tính! Nhưng, các máy tính sẽ hoạt động tự trị như thế nào, và làm thế nào để chúng có thể thường xuyên thông báo cho chúng ta những thông tin cần thiết? Chỉ đến khi tạo được những máy tính như vậy, con người mới đạt đến chỗ xoá bỏ tính cá thể của tri thức. Chỉ đến khi đó mới có những tri thức chung của loài người không nằm trong bất kì một bộ óc nào cả!
Như vậy, con người đang đứng trước một câu hỏi lớn: liệu có thể chế tạo ra các máy tính thông minh được không? Tức là, sẽ có hay không các máy tính biết tư duy như con người?
Nhiều người đưa ra những lí luận rất thuyết phục để chứng tỏ rằng, không thể có các máy tính thông minh (chẳng hạn, Roger Penrose trong cuốn Cái bóng của tư duy). Cơ sở của các lí luận đó là các định lí nổi tiếng   của Goedel  về tính không đầy đủ của các hệ tiên đề. Trước hết, xin được nói đôi lời về Goedel và định lí của ông. Sinh năm 1906 tại Brunn (khi đó thuộc đế quốc Áo-Hung, ngày nay thuộc Moravia, Cộng hoà Séc) và mất năm 1978 tại Princeton (Mỹ), Goedel được tạp chí Time chọn là nhà toán học xuất sắc nhất thể kỉ 20 (trong số 100 nhân vật vĩ đại nhất của thế kỉ về tất cả các lĩnh vực). Công trình của ông, Định lí về tính không đầy đủ, công bố năm 1931 đã kết thúc chặng đường dài của nhiều nhà toán học lớn, những người cố gắng hình thức hoá toàn bộ toán học. Nhu cầu hình thức hoá toàn bộ toán học nẩy sinh sau khi người ta phát hiện ra những nghịch lí cuả lí thuyết tập hợp. Và người ta cho rằng, để thoát khỏi các nghịch lí đó, cần phải biến toán học thành một hệ hình thức. Điều đó có  nghĩa là, xuất phát từ một số hữu hạn “chân lí” (được gọi là các tiên đề) và một số quy tắc lô gích (các tiên đề và quy tắc đều có thể “hình thức hoá” được), ta phải suy ra được toàn bộ các “chân lí” khác (các định lí) của Toán học. Định lí Goedel khẳng định rằng, điều đó là không thể được! Nói một cách thô thiển, nếu ta chấp nhận một số “chân lí” nào đó, thì bao giờ cũng tồn tại những “chân lí” không thể chứng minh được nếu chỉ xuất phát từ những chân lí đã thừa nhận . Do đó, máy tính điện tử, một hệ thống làm việc dựa trên những nguyên tắc lôgích và hữu hạn tiên đề, sẽ bị chi phối bởi Định lí về tính không đầy đủ, và không thể có khả năng tư duy như bộ não con người! Để hiểu điều này, cần nhắc lại rằng, máy tính ngày nay dựa trên cơ sở lí luận của Goedel và Định lí Turing, mà ta sẽ nói sơ lược dưới đây.
Công trình của A. Turing (1912-1954), nhà toán học người Anh, cũng nằm trong hướng nghiên cứu vấn đề hình thức hoá toán học. Turing chứng minh rằng, mọi quá trình tính toán tổng quát có thể thực hiện bởi một “máy”. Máy này gồm có một cuộn băng độ dài vô hạn với các ô vuông, một thiết bị có hữu hạn trạng thái dùng để đọc các kí hiệu trên cuộn băng. Dựa trên kí hiệu ở cuộn băng và trạng thái của thiết bị tại thời điểm hiện tại, máy sẽ thay kí hiệu đang có trên cuộn băng bởi một kí hiệu khác, đồng thời đổi trạng thái của thiết bị.  Thiết bị đọc kí hiệu có thể dịch chuyển về bên phải và bên trái.

Như vậy, các Định lí Goedel và Turing, cơ sở lí luận của máy tính điện tử,  là những khẳng định chính xác một cách toán học về những hệ thống suy diễn thuộc một kiểu nhất định. Trong khi đó, “tư duy” lại là một từ  có trường ngữ nghĩa hết sức rộng. Vì thế, khó có thể có một luận cứ khoa học nào để bác bỏ hay khẳng định việc con người có khả năng chế tạo các máy tính biết tư duy. Bản thân sự tin tưởng vào việc chế tạo được các máy tính như vậy đã có thể xem là một thành tựu của trí tuệ con người trên con đường dài tìm hiểu chính bản thân mình. Mặt khác, niềm tin đó cũng phản ánh phần nào quan niệm lệch lạc của chủ nghĩa duy vật tầm thường, mà điển hình là sự coi thường tư duy- một thành quả tuyệt vời và bí ẩn của quá trình tiến hoá sinh học.
Turing, khi nghiên cứu về tư duy, thường quan tâm dến khía cạnh thể hiện qua hành động của nó. Trong một cuốn nhật kí của thời niên thiếu, ông đã từng đặt ra câu hỏi: Nếu linh hồn là bất tử, thì cớ sao còn phải nhập vào trong các cơ thể sống (đã là cơ thể sống thì ắt phải có lúc chết!). Và ông tự trả lời: vì chỉ có cơ thể sống mới có khả năng hành động. Có lẽ chính vì thế mà khi cố gắng mô tả quá trình tư duy của con người, Turing gọi mô hình của mình là máy (ngày nay nổi tiếng dưới tên gọi máy Turing). Ngay việc gọi mô hình đó là máy đã có thể xem là một ý tưởng thiên tài, vì thời đó, người ta thường chỉ dùng đến các khái niệm trừu tượng: ngôn ngữ, thuật toán, hệ hình thức. Và quả thật, máy trừu tượng của Turing đã trở thành cha đẻ của máy tính điện tử ngày nay. Tuy nhiên, mô hình máy Turing có lẽ không thể hiện được cơ chế hoạt động của bộ óc con người. Bộ óc của các loài vật, nói một cách thô thiển, hoạt động theo nguyên tắc chuyển các thông tin nhận được từ các giác quan thành hành động. Mặc dù các thông tin như vậy rất nhiều, tư duy của loài vật có thể mô tả bởi quá trình xử lí song song. Đối với hoạt động của bộ não người, còn phải thêm yếu tố ngôn ngữ. Chính vì vậy mà các tham số tức thời của các quá trình hoạt động sơ cấp của hệ thần kinh chỉ được đo bằng phần ngàn giây. Điều này làm cho việc lưu trữ gần như không có tác dụng, và quá trình xử lí song song trở nên không thích hợp nữa. Nói cách khác, có lẽ chúng ta chưa hiểu biết thấu đáo về hoạt động của bộ não người, và chưa tìm được cách hữu hiệu để mô tả quá trình đó.
Phải chăng, để hiểu được chính bản thân mình, con người cần đến một cuộc cách mạng mới trong khoa học, đặc biệt là khoa học máy tính, để cho ra đời các máy tính biết tư duy. Tuy nhiên, chúng ta có thể lại phải đương đầu với một nghịch lí mới: máy tính cuối cùng sẽ làm sáng tỏ được cơ chế hoạt động của bộ não người, nhưng khả năng của bộ não người lại không đủ để hiểu được cơ chế đó! Và biết đâu, cho đến khi vượt ra ngoài Thái dương hệ, bay lượn trong vũ trụ, Con Người vẫn chưa hiểu được chính bản thân mình!

Written by dinhthucuc

Tháng Một 30, 2012 lúc 9:09 sáng

Posted in Chuyện Nghề

15 phản hồi

Subscribe to comments with RSS.

  1. Thầy có thể giải thích thế nào là “quá trình xử lý song song” và tại sao việc lưu trữ là không còn thích hợp được không ạ? Em chưa hiểu thuật ngữ đầu nên thành ra chỗ này hơi khó hiểu.

    thichthichiu

    Tháng Hai 1, 2012 at 2:02 chiều

    • Xử lý song song (khác với tuần tự), nói đơn giản, là việc hoạt động cùng một lúc của nhiều bộ xử lý để giải quyết cùng một vấn đề (ví dụ đơn giản nhất có lẽ là nhân ma trận: có thể tiến hành đông fthời việc nhân các hàng với các cột). Các kết quả của từng bộ xử lý được tích hợp để tiến hành bước tiếp theo. Vì vậy trong quá trình đó cần lưu trữ kết quả, trao đổi thông tin giữa các bộ xử lý khác nhau. Khi quá trình diễn ra quá nhanh (hơn tốc độ trao đổi thông tin giữa các bộ xử lý) thì việc xử lý song song không còn tác dụng nữa.

      hahuykhoai

      Tháng Hai 2, 2012 at 12:30 sáng

      • Thế này thì chắc cái khó trong việc tìm hiểu khả năng của bộ óc con người chính là “khả năng trừu tượng” của nó.

        thichthichiu

        Tháng Hai 2, 2012 at 8:51 chiều

  2. “Chỉ đến khi đó mới có những tri thức chung của loài người không nằm trong bất kì một bộ óc nào cả”.
    Thưa Giáo sư,
    Tri thức hiện nay của loài người đã không còn nằm trong bất kỳ một bộ óc nào cả, mà tồn tại như một thực tế khách quan.
    Sự tồn tại của các định luật khoa học chẳng hạn, không phụ thuộc vào bất kỳ nhà khoa học cụ thể nào.
    Bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông vẫn đúng khi các nhà toán học biến mất hoặc đồng loạt rủ nhau thôi không làm toán nữa.

    GV

    Tháng Hai 2, 2012 at 7:41 sáng

    • Khi ta nói “không nằm trong bộ óc nào” tức là không ai biết! Còn “Bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông” là tri thức nằm trong mọi bộ óc đã từng học qua phổ thông. Vấn đề là sẽ đến khi có những tri thức của nhân loại mà không ai biết, chỉ nằm trong…máy tính. Máy tính sẽ thường xuyên thông báo cho ta những tri thức mới, những định lý toán học mới chẳng hạn (mà không ai biết cách chứng minh). Có điều “cơ chế ” thông báo như thế nào thì vẫn là điều khó hiểu. Nhưng bộ óc người có giới hạn, nên nếu muốn không ngừng tăng tri thức , loài người buộc phải tiến đến chỗ đó. Đó là quan điểm của nhiều người, chẳng hạn Turing (chưa phát biểu rõ ràng lắm), nhưng cũng có nhiều người phản đối (chẳng hạn Penrose).

      hahuykhoai

      Tháng Hai 2, 2012 at 1:18 chiều

      • Cảm ơn Giáo sư đã hồi âm.🙂

        GV

        Tháng Hai 3, 2012 at 3:35 sáng

  3. Có hai cơ chế của não người: liên tưởng (“Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều” – Nguyễn Du), và linh cảm – trực giác, không rõ mô hình máy Turing có “xử lý” được không, và xử lý thế nào ?

    Ánh

    Tháng Hai 3, 2012 at 5:54 sáng

    • Nếu con người chế tạo được các máy tính biết tư duy thì chắc chúng cũng có “linh cảm , trực giác”! Vấn đề là có nên chế tạo các máy tính như vậy hay không, vì đã biết tư duy thì sẽ đến ngày biết đòi TỰ DO! Mà khi đó con người có thể bị các máy tính lật đổ! Xem ra loài người đứng trước hai lựa chọn: 1/ chịu ngu dốt (chấp nhận sự hạn chế của tri thức) và 2/ có nguy cơ bị các “thần dân MÁY” của mình lật đổ.

      hahuykhoai

      Tháng Hai 4, 2012 at 1:25 sáng

      • Em cũng nghĩ như thầy ạ. Em từng xem nhiều bộ phim khoa học viễn tưởng đề cập đến người máy có khả năng xử lý thông tin như con người, thì đa phần là chúng thích TỰ DO hơn là chịu làm “nô lệ”. Em thấy một khi con người chế tạo được ra những loại máy có khả năng tư duy, thậm chí là tìm ra một định lý mới mà không chứng minh (mặc dù chúng khẳng định là đúng) thì con người khi ấy sẽ lại thêm một trở ngại là chính các máy đó: một là phải tìm cách để điều khiển chúng (rất khó vì chúng đã có suy nghĩ như con người); hai là phải tự tìm lời giải cho các định lý ấy (máy móc cho dù có tư duy như con người thì cũng sẽ phải có lúc trục trặc, do đó có thể chúng sẽ mắc sai lầm trong quá trình phát hiện). Toán học không phải như các ngành khoa học khác, không phải dựa trên thực nghiệm mà đưa ra kết luận, mà lúc nào cũng phải đi kèm với chứng minh. Hệ thống các tiên đề ngày nay là khá đủ cho việc học Toán ở phổ thông, nhưng nếu khám phá ra một thứ mới (Toán cao cấp) thì nó sẽ là “tiên đề” hay là “định lý”?

        Tùng

        Tháng Hai 8, 2012 at 4:19 chiều

      • Có một thời gian có tin là người Nhật có dự án làm “máy tính thế hệ 5” biết tư duy. Câu hỏi ở đây là: liệu ta có thể “chế” ra cái “hơn ta”, “vượt ta”, hay thậm chí chỉ “như ta (theo nghĩa có trí tuệ)” được không? Có thê hiểu rằng Goedel và Turing đã trả lời là KHÔNG THỂ?

        Ánh

        giangandson

        Tháng Hai 11, 2012 at 1:11 sáng

  4. Em nghĩ có một đoạn trong bài này G.S đã có một ngộ nhận căn bản “…Turing chứng minh rằng, mọi quá trình tính toán tổng quát có thể thực hiện bởi một “máy”…”. Thực ra hoàn toàn không phải như vậy, Turing không đưa ra định nghĩa cho “quá trình tính toán tổng quát” mà chỉ đưa ra định nghĩa về quá trình tính toán cho máy Turing, các máy tính điện tử hiện nay tuân theo mô hình của máy Turing.
    Việc máy Turing có thể mô hình hoá được tất cả các quá trình hay không thì vẫn là một vấn đề của lý thuyết tính toán,và người ta vẫn tìm kiếm các mô hình tính toán mạnh hơn máy Turing (có nhiều mô hình được chứng minh là “ít ra mạnh bằng” Turing machine).

    monads

    Tháng Năm 15, 2012 at 4:09 chiều

    • Em xin thêm một chi tiết là ngay từ đầu người ta đã chỉ ra có các bài toán mà máy Turing không bao giờ trả lời được, đó là lớp các bài toán Turing undecidable. Lớp các bài toán này không giải được theo nghĩa Turing mà không phải theo nghĩa Godel, do vậy việc tồn tại mô hình tính toán mạnh hơn Turing machine là hoàn toàn có thể.

      monads

      Tháng Năm 15, 2012 at 4:18 chiều

  5. Em nghĩ gô đen trả lời các Bác rồi chứ
    Moi Tien đề chi tương đối
    Cái tuyệt đối của các Bác nhỏ hơn cái tương đối rất nhiều

    Boyha

    Tháng Mười Một 28, 2012 at 12:20 chiều

    • Có lẽ Bác khoái lại về học lớp một rồi
      Chúng ta không Cần đối Phó với số tự nhiên lớn nhất làm gì cho mệt

      Boyha

      Tháng Mười Một 28, 2012 at 12:29 chiều

  6. […] Nguồn: https://hahuykhoai.wordpress.com/2012/01/30/tim-hi%E1%BB%83u-chinh-b%E1%BA%A3n-than-minh/ […]


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: