Archive for the ‘Chuyện Đời’ Category
Thời gian
1. Cái đồng hồ nước.
Trong cuốn Apology, Platon có kể lại một quy tắc của tòa án Athens: người ta đặt tại tòa một cái đồng hồ nước có ghi mốc thời gian, và cho đến khi đồng hồ dừng lại mà bị cáo chưa bào chữa được cho mình thì anh ta bị kết tội.
Xem ra thì đến cả Công lý cũng không có thời gian để chờ đợi! Hay bởi vì, nếu quá trình xét, xử kéo dài quá một mức nào đó thì, thậm chí, không còn Công lý nữa? Câu hỏi này, có thể là đã được đặt ra từ mấy ngàn năm trước, và có thể vẫn là câu hỏi của mấy ngàn năm sau?
Câu thành ngữ Việt Nam “Để lâu cứt trâu hóa bùn” là muốn nói ý đó chăng?
2. Thời gian trong Toán học. Các nhà toán học làm việc trong một lĩnh vực dường như độc lập với thời gian. Các chứng minh toán học bao giờ cũng được dùng ở thời hiện tại! Thế nhưng, quan niệm về thời gian vẫn được đặt ra ngay từ buổi đầu của toán học.
Trong những nghịch lý Zeno, có lẽ nổi tiếng nhất là Nghịch lý Achilles và con rùa. Achilles và Rùa cùng chạy thi. Rùa đứng trước Achilles 100 mét. Tất nhiên là Achilles chạy nhanh hơn Rùa rất nhiều. Khi Achilles chạy được khoảng cách 100 mét, đến vị trí xuất phát của Rùa, thì Rùa, dù rất chậm, cũng đi được một quãng đường nào đó, chắng hạn một mét. Achilles phải mất một thời gian nào đó để đến được vị trí mới của Rùa. Trong khi đó, Rùa lại tiến thêm một bước mới. Cứ như thế, lực sĩ Achilles không bao giờ đuổi kịp chú Rùa!
Ngay từ cổ xưa, Platon đã giải thích được vì sao có nghịch lý Zeno: người ta đã mắc sai lầm khi chia thời gian ra thành những đoạn hữu hạn.
Với toán học hiện đại, khái niệm thời gian càng được đặc biệt quan tâm. Thường thì người ta mong các thuật toán kết thúc trong một khoảng thời gian ngắn nhất, để nhanh chóng có được kết quả. Thế nhưng đôi lúc điều ngược lại được chờ đợi: ứng dụng nổi tiếng của toán học là các hệ mật mã khóa công khai lại dựa trên niềm tin (chứ không phải là “định lý”) rằng thuật toán phân tích số nguyên ra thừa số nguyên tố đòi hỏi một thời gian hết sức dài. Chẳng hạn, để phân tích một số nguyên có chừng 500 chữ số thập phân ra thừa số nguyên tố (với những thuật toán tốt nhất và với máy tính mạnh nhất hiện nay), nói chung người ta cần hàng tỷ tỷ năm (để so sánh: tuổi của vũ trụ ước chừng 14 tỷ năm).
Không ở đâu trong toán học mà yếu tố thời gian lại quan trọng như trong Xác suất, ngành khoa học nghiên cứu những hiện tượng “ngẫu nhiên”. Nhưng các hiện tượng “ngẫu nhiên” có tồn tại nữa không, nếu ta xét chúng trong một khoảng thời gian “vô hạn”. Jacob Bernoulli, một trong những ông tổ của ngành xác suất từng viết: “Nếu quan sát của mọi hiện tượng được tiếp tục trong toàn bộ thời gian đến vĩnh hằng, thì mọi điều quan sát được trong thế giới này đều xẩy ra với một tỷ lệ không đổi, và với một quy luật không đổi. Khi đó, những hiện tượng ngẫu nhiên nhất sẽ được chúng ta thừa nhận là tất yếu…. Platon tiên đoán rằng, sau một số vô cùng nhiều những thế kỷ sẽ trôi qua, mỗi sự vật sẽ quay về trạng thái ban đầu của nó”.
Ai và Ky ở xứ sở của những con số tàng hình
Tôi may mắn có trong tay bản thảo cuốn sách đã ba tháng nay, và phải làm cái công việc khó khăn là không dám “khoe” vì sợ lộ bí mật. Nay cuốn sách đã sắp ra mắt, xin đưa lên bài viết về cảm nhận của tôi khi đọc sách. Cũng có thể xem là Lời giới thiệu cuốn sách với bạn đọc (của trang blog này).
Một cuốn sách trình bày những kiến thức toán học dưới dạng “ngây thơ” nhất, và vì thế, bản chất nhất. Ta gặp ở đây những khái niệm đầu tiên về số, những vấn đề “cao siêu” như trường số, tính không giải được bằng căn thức của phương trình bậc 5 tổng quát, cho đến hình học phi Euclid, đường trắc địa…Một cuốn lịch sử toán học, từ sự ra đời của số vô tỷ đầu tiên đến sự xuất hiện của phương pháp tọa độ và giải tích vô cùng bé. Nhưng trước tiên, cuốn sách là một câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp, với nắng vàng trên bãi cát, với bầu không khí trong vắt của trí tuệ và tình người, với những nghịch lý và âm mưu. Ta chợt nhận ra rằng, thế giới của những con số cũng huyền ảo, kỳ bí và lãng mạn như cuộc đời.
Tác giả đưa ta vào câu chuyện cổ tích, mà ở đó cùng với Ai và Ky, ta bắt gặp những con người của nhiều thế kỷ khác nhau đang sống cùng nhau trong một thế giới chung: Toán học. Ta gặp Euclid (thế kỷ III TCN) và Thales (624-546 TCN), hai nhà phù thủy chỉ dùng cây thước và compa mà dựng nên cả “thế giới hữu tỷ”; thấy Pythagoras (570-495 TCN) nghiêm khắc trừng phạt anh học trò Hyppasus (thế kỷ V TCN) vì đã dám tạo ra số vô tỷ đầu tiên, phá vỡ cài hài hòa của thế giới hữu tỷ. Ta gặp Zeno xứ Elea (490- 430 TCN) hiện thân thành cô gái Zena với cặp mắt mê hoặc, mà khi nhìn vào đó, thời gian dường như bị chia thành những mảnh nhỏ vô cùng mà ta không thể vượt qua. Nhưng cuối cùng, Alice (lực sĩ Achilles?) đã dũng cảm vượt qua cái “nghịch lý Zeno” đó, dù biết là phải chịu trừng phạt. Để vượt qua cái việc chia cắt thời gian thành những mảnh nhỏ, Alice phải nhờ tới “chuỗi hội tụ”, nhờ tới giải tích vô cùng bé. Ông Chico hiểu điều đó, nhưng vẫn trừng trị Alice, để không làm phật ý Đức Vua, người chỉ biết dùng phép khai căn để tìm ra gốc gác từng thần dân (số) của mình. Ta nhận ra trong bóng dáng Chico hình ảnh của Cauchy (1789-1857), nhà toán học thiên tài, một trong những người đặt nền móng cho giải tích vô cùng bé, nhưng cũng là một người bảo hoàng cực đoan. Cũng vì phụng sự Đức Vua mà Chico trừng phạt chàng thanh niên Elaci, người đã phát hiện ra rằng Đức Vua không thể chỉ dùng phép khai căn mà tìm được những “thần dân” là nghiệm của phương trình bậc năm. Ông Chico muốn dìm đi phát hiện đó của chàng Elaci, và Elaci đã phải quyết đấu với con rồng. Nhưng trong câu chuyện cổ này, Elaci không chết ở tuổi 21 như Evariste Galois (1811-1832) trong buổi sáng định mệnh sau trò đấu súng, mà chỉ bị đày đến “xứ p-adic”, xứ sở mới của những con số khác với số thực và phức nhưng cũng không kém phần hấp dẫn.
Ai và Ky ở xứ sở của những con số tàng hình còn là cuốn sách vỡ lòng về triết học của toán học. Với cặp mắt ngây thơ của Ai, ta nhìn ra mâu thuẫn ẩn chứa trong các chứng minh phản chứng, mâu thuẫn giữa cái hữu hạn và vô hạn, của sự chứng minh được hay không một chân lý toán học. Bởi thế nên ông già Cartesius (René Descartes, 1596-1650) mới nhận ra rằng, để “tồn tại” thì chỉ “suy nghĩ” thôi là chưa đủ: “Ta đang nghi ngờ, việc của ta là nghi ngờ. Ta sợ một lúc nào đó ta không còn nghi ngờ được nữa, thì bản thân ta cũng sẽ trở nên tàng hình”. Cũng bởi vì thế mà Diogenes xứ Sinop (412 hoặc 404 – 323 TCN) mới cầm đèn đi giữa ban ngày để tìm cho ra người lương thiện.
“Giải quyết một bài toán cũng như ăn từng miếng nhỏ của trái táo. Làm như thế một là để thưởng thức, hai là để tránh nghẹn”, ông già Cartesius đã khuyên Ai như thế. Cuốn sách trên tay các bạn cũng cần được thưởng thức chậm rãi như thế, để có thể cảm nhận được hương vị đậm đà của nó. Và trên hết, phải có cặp mắt ngây thơ như cậu thiếu niên Ai, để nhìn ra chân lý. Bởi vì chân lý chỉ dành cho những người không bị che mắt bởi cái vụn vặt thường nhật.
Lời nhắn nhủ của Elaci từ xứ sở p-adic cũng là lời nhắn cho tất cả chúng ta: “Hãy lắng nghe những người khác nói nhưng luôn suy nghĩ bằng cái đầu của mình. Cuối cùng và quan trọng nhất là đừng bao giờ để rơi mất tiếng cười hồn nhiên của Alice”
Cuốn sách giản dị, thông thái, sâu sắc, vừa dễ gần, vừa không dễ hiểu - như chính tác giả của nó vậy.
Gấp sách lại, cái “cảm giác tiếc nuối trở nên mơ hồ như làn khói lam chiều. Có một tiểu hành tinh vừa băng qua mùa thu của trái đất”.
Ghi chú: Hai bạn Ai và Ky vừa mới xây một ngôi nhà ảo, cửa lúc nào cũng mở rộng. Ai (et Qui) muốn kết bạn với Ai và Ky thì tìm đến địa chỉ http://www.aivaky.com/
Ngày 8 Tháng 3: Lửa tắt – Cơm sôi- Lợn kêu – Con khóc…
Nhân ngày 8-3, nhớ câu ca dao mà ngày nay có lẽ ít người biết:
Giữa khi lửa tắt, cơm sôi
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem…
Câu thơ ngắn mà tả hết nỗi tất bật, cực nhọc của người phụ nữ trong gia đình, và cái vô tích sự của anh đàn ông. Vậy mà Lửa-Cơm-Con-Lợn-Chồng đều được lo chu tất! Không những vậy, trong chính trường, thương trường, tình trường chị em nào có kém phái mày râu!
Hoan hô người Phụ Nữ Việt Nam!
Đố vui…Sinh học: con Rết
Ngày xửa ngày xưa, có một con Rết đang bò rất nhanh. Bỗng có người bảo: “Này Rết, trên vừa đưa xuống bản chỉ đạo “Về những bước đi cần thiết của con Rết”, mày phải nghiên cứu xem khi đi thì nên bước chân nào trước, chân nào sau cho đúng hướng”.
Rết ta suy nghĩ, cân nhắc. Nó có nhiều chân quá, nên sau khi cố gắng “lập kế hoạch để các chân bước đúng chỉ đạo”, Rết không đi được nữa!
Bài tập: 1/ Tại sao Rết cần nhiều chân đến thế?
2/ Thứ tự bước chân của con Rết thế nào thì tối ưu?
3/ Thử tìm ví dụ về một số “con Rết” có thực trong đời thường (khi đó cần cho biết “Ngày xửa ngày xưa …là cách đây bao nhiêu năm? Và con
Rết đó bây giờ thế nào?) .
Tại sao Người đau cột sống?
Tại sao Người đau cột sống?
Một lần Người nhăn nhó vì đau lưng, hỏi Trâu đang đầm dưới vũng bùn:
- Này Trâu, sao anh suốt đời cày ruộng, lại đầm mình trong bùn mà không bao giờ bị đau cột sống?
- Tôi ngu như Bò, làm sao biết được!
Người đi hỏi Lợn:
- Này Lợn, anh quanh năm sống nơi ẩm thấp, bẩn thỉu, vậy mà sao lại không đau cột sống như tôi nhỉ?
- Tôi ngu như Lợn, làm sao biết được! Anh đi mà hỏi Chó, nó vốn nổi tiếng thông minh.
Người đi hỏi Chó, Chó khuyên:
- Cột sống của anh quanh năm phải giữ để anh đứng thẳng lưng, làm sao chịu đựng được! Anh cứ làm như lũ Trâu, Bò, Chó, Lợn chúng tôi, đi bằng bốn chân, để cột sống được nghỉ thì đến già anh vẫn chẳng bị đau lưng!
Nghe vậy, Người nói:
- Thôi, tôi đành chịu đau cột sống vậy!
mẹ con nhà gà
Tin các báo: dịch cúm gia cầm trở lại (http://dantri.com.vn/c7/s7-561760/thanh-hoa-xuat-hien-dich-cum-gia-cam.htm). Đưa lại bài viết sau, đã đăng trên Tia Sáng cách đây mấy năm, thời dịch cúm gà mới xuất hiện.
mẹ con nhà gà
- Chiu chiu, “ai làm nấy chịu” mà nay sao người ta lại diệt hết họ nhà gà chúng ta khi ở gần gà bệnh hả mẹ?
- Người ta cũng còn cả luật “tru di tam tộc” để phòng hậu hoạ nữa con ạ.
- Nhưng tổ tiên ta sống với họ hàng trăm ngàn năm rồi, sao bây giờ mới lây bệnh sang người?
- Cục ta cục tác, xưa, họ khác, ta khác. Bây giờ cũng giống nhau cả: loài người cũng “ăn bẩn’, “đục khoét”, “đá nhau”, cũng “ngu như bò” nên hết thảy bệnh cùm gà, bò điên,…đều lây sang cho họ được hết!
- Thế …ngộ nhỡ bệnh của họ cũng lây sang ta thì sao hả me?
- Chứ còn gì nữa! Mà này, mày cũng lây rồi đấy, suốt ngày lý luận mà chẳng chịu làm gì!
Ích gì…toán học?
Mạo muội xin phép Chế Lan Viên thêm vào một câu trong bài “Ích gì” của ông.
Ích gì?
Chế Lan Viên
Khéo rồi mất giống bò sữa, họa mi, ngựa đua, gà chọi…
Khó gì? Ta không giữ, không nuôi thì nó mất.
Giống các nhà thơ cũng vậy,
Giống chồn xạ hương không ai gặp,
Tuyết trên non cao không ai thấy,
Giống nàng tiên, ông Bụt hiện trong mơ…
Mà chả cần ai giết
Chỉ thôi yêu là nó chết
Chỉ cần bâng quơ vu vơ đặt ra câu hỏi
Trịnh trọng cái bâng quơ vu vơ ấy
Hỏi rằng: ích gì họa mi?
Ích gì bò sữa?
Ích gì xạ hương?
Ích gì thi sĩ?
Ích gì nàng Tiên?
Ích gì cái hôn?
Ích gì giấc mơ?
Ông Bụt ích gì?!…
Ích gì…Toán học?
P.S. Ông Bụt thì chết lâu rồi, vì chắc chẳng … ích gì. Nhưng còn bò sữa, sao cũng phải “bang quơ, vu vơ” hỏi? Chắc nhà thơ muốn nói: đến như bò sữa mà cứ thỉnh thoảng hỏi “ích gì” thì nó cũng chết, huống chi là Họa Mi và Toán học.
Tản mạn đầu xuân về…con Chuột, và nỗi khổ “A Còng”
Tôi không nói về nỗi khổ của “thế hệ @”, mà về nỗi khổ chung của chúng ta, những người đang còng lưng dưới gánh nặng thông tin của thời đại “A Còng”. Trong khoảng hàng ngàn năm, và cũng mới cách đây không xa thôi, muốn trở thành nhà thông thái, người ta phải lên núi ở ẩn ít nhất là 3 năm! Lên núi, để có thể suy nghĩ sâu hơn, nhiều hơn. Lên núi, để tạm thời lánh khỏi cái thế giới bộn bề thông tin, mà phần lớn là vô ích, dù thời đó xã hội chưa nhiều thông tin như ngày nay. Bây giờ lên núi khó quá: không mấy người có “trang trại ” trên núi để lên, mà có lên núi đi nữa, cũng trốn đâu cho thoát thông tin, khi internet đã về đến khắp bản rừng. Đành ngồi giữa phố, giữa ồn ã, bộn bề, lộn xộn thông tin mà suy nghĩ vậy. Không nhiều người làm được điều đó. Càng hiếm hơn trong “thế hệ A Còng”. Lâu rồi, liệu có mất dần thói quen suy nghĩ?
Internet ngày nay có cái gì đó giống như đòn bẩy ngày xưa của ông già Acsimét. Có cái đòn bẩy trong tay, người yếu cũng có thể bẩy được vật nặng chẳng kém gì người khỏe. Đòn bẩy, và nhiều công cụ lao động khác góp phần làm cho xã hội bình đẳng hơn: bình đẳng giữa người yếu và người khỏe (về thể chất). Internet làm được hơn thế: người ít học có thể biết nhiều điều mà “nhà thông thái” không biết, chỉ với một động tác “nhấp chuột”. Đặc biệt là đối với các thông tin thường thấy trong các cuộc thi trên tivi, kiểu như “bài hát này trong phim nào“, hoặc trong mục “Văn hóa” của các trang mạng: “hôm qua cô nàng (ngôi sao) X nào đó bắt đầu cặp bồ với anh Y…”. Có cảm giác như ngày nay, không cần học nhiều, mà chỉ cần nhấp chuột thật thạo. Với con chuột trong tay, con người có vẻ trở nên bình đẳng hơn: sự bình đẳng trong hiểu biết thông tin. Nhiều khi tưởng như con Chuột đã xóa nhòa ranh giới trong xã hội con Người: ranh giới giữa người thông minh và người không thông minh, người học nhiều và người ít học.
Đúng là Internet đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự, làm thay đổi cả xã hội, từ khoa học kỹ thuật đến kinh tế, văn hóa, thay đổi cả tính cách con người. Nhưng cuộc cách mạng nào cũng có sức tàn phá của nó. Cuộc cách mạng Internet có lẽ đã tàn phá đi ở một số đông, rất đông người, thói quen suy nghĩ. Và điều đáng lo ngại hơn: phần lớn nạn nhân của nó lại là thế hệ trẻ, “thế hệ A Còng”. Người ta tự cảm thấy hài lòng vì mình “biết nhiều”, thậm chí cái gì cũng biết. Nỗi khát khao hiểu biết nhiều khi được thỏa mãn bởi việc “lướt nét”. Chỉ “lướt” là chủ yếu, chứ hầu như chẳng học gì. Người ta không còn thời gian để đọc một cuốn sách nghiêm chỉnh. Có cảm giác như để thời gian đó mà “lướt nét” sẽ biết được nhiều hơn? Không còn thời gian nghiền ngẫm, các thông tin cứ chảy qua bộ não người ta như một giòng sông chảy không ngừng. Trong giòng sông đó, khi thì cá tôm, khi thì rác rưởi. Đã trở thành “Ngày xưa”, cái thời mà trên giá sách của các bậc túc Nho có thể chỉ có mấy chục cuốn sách Thánh Hiền. Các cụ đọc cả đời, đọc đi, đọc lại, nghiền ngẫm, và trở thành thông thái. Lại càng xa, thời mà Khổng Tử có thể “mặc nhi thức chi“, ngồi lặng yên suy nghĩ mà hiểu được việc thiên hạ.
Không thể, và không nên quay lại “ngày xưa”, nhưng nên quay lại với thói quen suy nghĩ của thời chữ a chưa bị còng lưng dưới gánh nặng của đủ loại thông tin, thời chú Chuột chưa đánh lừa người ham hiểu biết.
Thực ra, ngăn cản bớt, đúng hơn là chọn lọc thông tin, từ lâu đã là một cơ chế của tự nhiên nhằm bảo vệ con người. Chẳng thế mà khi về già, người ta trở nên “chân chậm, mắt mờ, tai nghễnh ngãng, răng rụng,…” Tất cả chỉ để hạn chế bớt thông tin: nhìn ít hơn, nghe ít hơn, đi ít hơn, ăn ít hơn, tóm lại là mọi ngả đường, mọi thứ thông tin có thể vào người đều phải được chặn bớt. Có như vậy, người ta mới thích ứng được, khi khả năng xử lý thông tin không còn như trước nữa. Đến mái tóc, tưởng như không thu nhận thông tin gì, cũng phải bạc dần. Nếu không thế, đôi khi bạn quên mình đã già. Và nguy hại hơn, có thể những người khác giới cũng lầm tưởng bạn còn trẻ, và không chừng các quan hệ mới có thể làm bạn phải xử lý một khối lượng thông tin khổng lồ!
Với xã hội, với cả một thế hệ, thì việc ngăn chặn sức tàn phá thói quen suy nghĩ của thời đại @ có lẽ đặt chủ yếu lên vai của ngành giáo dục. Làm thế nào để trẻ em từ nhỏ đã vui với niềm vui sáng tạo. Vui vì tự làm được con trâu lá đa hơn là được bố mẹ mua cho cái đồ chơi hiện đại. Muốn sáng tạo, người ta phải suy nghĩ, dù là sáng tạo nhỏ nhặt nhất. Vậy nên khi “giảm tải” chương trình, có lẽ cần giảm tải thông tin, hơn là giảm tải các phương pháp giúp sáng tạo nên thông tin. Chẳng hạn, một định lý (là một thông tin) mà không kèm theo chứng minh thì có nên đưa vào chương trình không? Sợ rằng, khi đó, học theo một cuốn sách giáo khoa sẽ không khác nhiều lắm với việc tìm thông tin trên internet. Và như vậy, vô tình trẻ em từ nhỏ đã lầm tưởng rằng “ngồi lặng yên nhấp chuột (không suy nghĩ) mà vẫn hiểu được việc thiên hạ”, và khi lớn lên sẽ chỉ là các khách hàng của món “mỳ ăn liền” trong tư duy.
Đôi điều suy nghĩ tản mạn giữa hai lần “nhấp chuột”, dù chưa thấu đáo thì Đầu Xuân cũng xin chữ “đại xá”.
Con rối – Cuộc đời
(bài đã đăng trên Tia Sáng, Tết Nhâm Thìn)
Cuối năm. Người người chạy đôn chạy đáo đi mua hàng giảm giá, đi biếu xén, về quê, thăm thú chùa chiền…Muốn tìm một góc tĩnh lặng, chợt nhớ câu thơ rất hay của Chế Lan Viên:
Lòng ta thành con rối
Cho cuộc đời giật dây…
Nghe như một lời than. Như một lời “tổng kết” cho thân phận con người. Không phải riêng thân phận nhà thơ. Không phải chỉ thân phận con người thời nay. Là vĩnh cửu, thân phân con người- con rối.
Người “tầm thường” luôn là con rối của ai đó.
Bậc “cao nhân” không chịu làm con rối cho ai thì vẫn không thoát khỏi “cuộc đời giật dây”.
Như được giương lên làm ngọn cờ thì gió đến là phải bay. Mà cả khi không có gió cũng phải phất phơ, bởi “ta là ngọn cờ”!
Như “thần tượng” thì cứ phải lúc nào cũng trang nghiêm “như tượng”.
Như “sao giải trí” thì phải luôn tạo ra đủ trò nhí nhố, “đánh bóng”, để cho cuộc đời giải trí.
Như nhà thông thái đã ở ẩn trên núi ba năm thì ai hỏi gì cũng phải vừa quay đầu vào vách, vừa phán dăm ba điều vô nghĩa. Để có xẩy ra chuyện gì thì người ta cũng có cách lý giải!
Có những người không chịu làm con rối cho đời. Họ thích làm ngược. Người khác khen thì ta chê, người khác thích thì ta không thích. Cứ tưởng như thế là “khác đời”, thực ra hành động của họ cũng bị cuộc đời quyết định đấy thôi! Vẫn bị cuộc đời giật dây mà không tự biết.
Đến những người có quyền lực tối cao – những ông Vua – thì như trong một bài hát nổi tiếng “Всё могут короли” của ca sĩ Alla Pugachova:
Các ông Vua có thể làm tất cả mọi điều
Số phận thế gian này nhiều khi do họ định đoạt
Chỉ có một điều không ông Vua nào làm được
Là lấy vợ vì tình yêu
(Всё могут короли,
Всё могут короли,
Судьбу всей земли
Решают они порой,
Но что ни говори
жениться по любви
Не может ни один, ни один король)
Bởi thế, dù thời nào thì cuộc đời vẫn cứ như là một sân khấu rối. Nên Balzac mới viết “La Comédie humaine” (Tấn trò đời), Thackeray mới nổi tiếng với “Vanity Fair” (Hội chợ phù hoa), và Tào Tuyết Cần mới bất tử với “Hồng Lâu mộng”.
Có lẽ người ta thích rối cũng vì trong tiềm thức có cái khát khao được trả thù cái sự đã phải làm con rối cho đời, nên giờ phải được làm kẻ “giật dây”! Phải chăng đó là lý do mà ở nhiều nước có những kiểu rối độc đáo lắm, như rối nước ở Việt Nam, rối bóng ở Indonesia,…
Cánh diều cắt đứt sợi dây thì không bay bổng được nữa. Con người muốn trở thành “nhân vật” của đời thì cứ phải chịu để Đời giật dây.
Đành thế. Nhưng thà là như Chế Lan Viên “cho cuộc đời giật dây”, chứ đừng để ai đó giật dây. Mà dù biết là khó, đôi khi vẫn nên cố gắng cắt đi vài sợi dây trói của đời.
LINH HỒN
Giao thời giữa năm cũ và năm mới là lúc để nghĩ đến những người thân quá cố. Việc “gọi hồn” không biết thực hư thế nào, nhưng đậm chất nhân văn. Nó an ủi người đang sống, cho họ cái cảm giác chưa mất hẳn người thân. Thậm chí như gặp lại người thân.
Ông Turing, cha đẻ của máy tính điện tử, ngay từ khi còn nhỏ đã quan tâm đến sự tồn tại của “linh hồn”. Trong cuốn nhật ký thời niên thiếu, ông đặt câu hỏi:” Nếu linh hồn là bất tử thì tại sao lại phải nhập vào cơ thể sống? Đã ”sống”, ắt phải có lúc chết”. Và tự trả lời: “Chỉ có cơ thể sống mới có thể hành động”. Xem ra từ nhỏ, Turing đã có cảm nhận rằng, những thứ trừu tượng nhất, kể cả tư duy con người, đều có thể, và cần phải thể hiện dưới dạng “máy”.
Bất tử và trừu tượng như linh hồn cũng phải tìm chỗ để thể hiện mình! Phải chăng đó là nguyên nhân của cái bi kịch thân phận con người trong mọi thời đại? Cha ông ta từ xưa đã nói đến điều đó trong chuyện cổ tích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (mà Lưu Quang Vũ có lẽ là người hiểu sâu sắc câu chuyện đó khi ông viết vở kịch cùng tên). Vì sự trớ trêu của số phận mà anh Trương Ba hồi sinh trong thân xác anh hàng thịt. Và cuộc đời còn lại của anh ta là cuộc đấu tranh đau đớn giữa cái “linh hồn” Trương Ba muốn vươn lên chỗ cao đẹp với cái thân xác hàng thịt chỉ mong “chén rượu, bát tiết canh”. Cuộc đấu tranh đó là vĩnh cữu, trong mỗi con người. Bởi vì ai trong chúng ta cũng có một phần cái thân xác “hàng thịt”.
Thân xác anh hàng thịt mang linh hồn Trương Ba là nguyên nhân của nhiều bi kịch trong cuộc đời anh ta, nhưng là bi kịch của sự thất bại trên con đường vươn đến cái cao thượng.
Vẻ ngoài Trương Ba mà linh hồn hàng thịt thì lại có thể mang bi kịch đến cho nhiều người khác.
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Cải cách hành chính: chuyện thiếu-thừa
(đã đăng trên Tia Sáng, 2009)
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của cải cách hành chính là phải làm cho bộ máy hành chính gọn nhẹ hơn. Tức là phải bỏ đi những bộ phận, những cá nhân thừa trong bộ máy. Nhưng, khó nhất vẫn là nhận ra cái gì thiếu, cái gì thừa.
Tôi xin kể hai mẩu chuyện dưới đây, những chuyện đó có thể là thật, mà cũng có thể chưa có bao giờ (mượn lời hát trong phim Tể tướng Lưu gù).
Chuyện thứ nhất. Nhà điêu khắc vĩ đại người Pháp Auguste Rodin (1840-1917) đã sáng tạo nên pho tượng bất hủ Le Penseur (Người suy tư), khắc họa hình ảnh một con người mà sự suy nghĩ căng thẳng hiện ra trên từng thớ thịt. Có người hỏi Rodin: “Làm thế nào mà ông có thể tạc nên pho tượng tuyệt vời đến vậy?”. Rodin trả lời: “Đơn giản thôi, tôi lấy một khối đá, và thấy cái gì thừa thì đẽo nó đi!”.
Hóa ra, chỉ cần loại hết những cái thừa, ta sẽ có một kiệt tác.
Chuyện thứ hai. Ở khu rừng nọ có bọn lâm tặc hoành hành rất dữ. Người ta lập một trạm kiểm lâm ở đó, với 5 kiểm lâm viên. Họ rất bận rộn, nên phải có một cấp dưỡng. Lâu dần, họ mang theo cả vợ con, nên có thêm cái nhà trẻ. Rồi thì đến y tá, thường trực, văn thư, chuyên trách Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên… đủ cả. Sau ít năm đã hình thành được một Trạm Kiểm lâm rất bề thế. Chỉ có điều, từ đó bọn lâm tặc tránh sang đường khác, thành ra Trạm chẳng còn bắt được tên lâm tặc nào.
Khi chủ trương tinh giản biên chế đưa xuống, người ta buộc phải xem ai thừa thì “tinh giản” đi. Xét đi xét lại, thấy ai cũng đang rất bận rộn với công việc được phân công, duy chỉ có 5 chàng kiểm lâm viên là thừa! Thế là 5 chàng kiểm lâm viên được “về hưu một cục”, và buổi tiễn họ về hưu cũng là buổi Trạm nhận được bằng khen về công tác tinh giản biên chế.
Động đất, sóng thần, nghĩ về… Prômêtê
Động đất, sóng thần, nghĩ về… Prômêtê
(đã đăng trên Tia Sáng, ngày sóng thần động đất)
Sau khi Prômêtê lấy lửa của Thần Dớt để truyền sức sống cho con người, Dớt đã cột ông ta trên đỉnh núi để diều hâu đến moi gan.
Có thể Dớt đã làm đúng.
Để sau khi tìm ra lửa, Prômêtê không thể đưa đến cho con người thêm cái gì nữa.
Không thuốc súng, để con người không tàn sát động vật quá cái mức đủ sống qua ngày.
Không máy hơi nước, mở đầu cho cái thời “cừu ăn thịt người”.
Không uranium, để có thể trở thành thảm họa của ngày hôm nay.
Nhưng Dớt đã sai.
Không có Prômêtê, con người vẫn tìm ra máy hơi nước, vì họ cần năng suất lao động cao hơn, cần phải được ăn nhiều hơn.
Không có Prômêtê, con người vẫn tìm ra phóng xạ, vì họ cần điện nguyên tử. Vì cuộc sống ngày càng cần thêm “tiện nghi”. Vì ngồi ở Việt Nam vẫn có những người thích hưởng cho được “thịt bò Kobe, bào ngư Nam Phi, ốc vòi Canada”,… rồi thì bao nhiêu thứ khác.
Những con cháu của Prômêtê đâu chỉ cần đến lửa. Họ cần nhiều thứ lắm, và càng ngày lại càng cần nhiều hơn. Duy chỉ có một thứ mà họ có vẻ như không cần đến: đó là thiên nhiên. Họ tha hồ khai thác nó, bóc lột nó.
Người ta kiếm ra tiền. Người ta chi tiêu. Người ta làm ra những rôbôt đào mỏ, đào vàng. Con người được giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc. Rồi những rôbốt biết soạn nhạc, làm thơ, biết khóc, biết cười, thậm chí biết nũng nịu, hờn giận nữa. Con người sẽ được “giải phóng” luôn khỏi âm nhạc, thơ ca, “giải phóng” khỏi tình yêu. Họ chỉ còn phải làm mỗi một việc là chế tạo ra các rôbôt.
“Nhân loại hỡi, tỉnh lại vẫn còn kịp”.
Ai đã nói câu đó nhỉ? Không nhớ nữa, lâu quá rồi. Liệu có còn kịp tỉnh nữa không?
Về vườn
Được báo tháng 12 này về hưu. Xưa các cụ gọi là “về vườn”. Gọi thế vì họ thường có cái vườn. Bây giờ lấy đâu ra vườn giữa cái thời “tấc đất tấc vàng” này nữa. Đành lập cái vườn ảo vậy. Mà cũng phải, có cái gì là không “ảo” đâu, nữa là cái vườn. Nhưng làm vườn, dù là ảo, thì cái chăm vẫn phải thật. Mà mình sinh ra đã không phải là dân tộc chăm. Đành trước tiên rinh mấy cái cây ảo về trồng đã. Lâu nay nó hay nằm trên Tia Sáng. Cũng may nhờ có anh Văn Thành và chi Thu Hà thúc dục mà thỉnh thoảng còn chịu khó trồng vài cái cây ở vườn nhà TS.